- Chi tiết
- Đánh giá 0
Viagra 100mg là một loại thuốc có tác dụng điều trị chứng rối loạn cương dương được nhiều khách hàng tin dùng. Trong bài viết sau, Mice Beauty sẽ thông tin chi tiết về sản phẩm thuốc tăng cường sinh lý Viagra 100mg.
1, Viagra 100mg là thuốc gì?
- Viagra thuộc nhóm thuốc: Nội tiết tố, hormone.
- Dạng bào chế của thuốc là: Viên nén bao phim
- Đóng gói dưới dạng: Hộp 1 vỉ x 4 viên
- Thành phần chính của thuốc là: Sildenafil citrate
- Thành vần tá dược phù hợp và vừa đủ trong mỗi viên nén.
- Hàm lượng trong một viên nén chứa: 100mg
- SĐK của thuốc Viagra 100mg: QLĐB-08-07
- Thuốc được sản xuất dựa trên dây chuyền hiện đại tiên tiến và đạt được tiêu chuẩn quốc tế về sản phẩm an toàn chất lượng cao do công ty Pfizer (Australia) Pty, Ltd – Úc sản xuất ra.
- Chỉ định: Viagra là thuốc được sử dụng trong điều trị rối loạn chức năng cương dương ở nam giới.
2, Thành phần Sildenafil citrate có trong Viagra 100mg có tác dụng gì?
Đầu tiên chúng ta tìm hiểu về sự cường dương, theo giải phẫu sinh lí thì cường dương là do dương vật ứ đầy máu. Lượng máu đến dương vật tăng lên trong khi lượng máu ra khỏi dương vật lại giảm đi là lý do khiến máu bị ứ lại tại dương vật.
Trong điều kiện bình thường, sự kích thích tình dục dẫn tới sản sinh và giải phóng một chất là oxit nitơ ở dương vật. Oxit nitơ có tác dụng hoạt hóa enzyme guanylate cyclase, chất này kích thích tạo ra guanosin monophosphat vòng (GMPc). Guanosin monophosphat vòng này có tác dụng làm cương dương vật do nó tác động đến lượng máu đi ra và đi vào dương vật.
Thành phần chính trong Viagra 100mg là Sildenafil có tác dụng ức chế enzym phá hủy GMPc có tên là phosphodiesterase-5 (PDE5). Vì cơ chế này nên Sildenafil ngǎn cản sự phá huỷ GMPc, cho phép GMPc tồn lại lâu hơn và tăng số lượng GMPc lên. GMPc càng nhiều và tồn tại càng lâu thì tình trạng cương dương càng kéo dài.
3, Công dụng, chỉ định của Viagra 100mg
Viagra 100mg được sử dụng để điều trị rối loạn chức năng cương dương, tức người không có khả năng hoàn tất hoặc duy trì sự cương của dương vật đủ để thực hiện các động tác giao hợp toàn hảo ở người nam trưởng thành.
Ðể thuốc có tác dụng thì có điều kiện là phải có sự kích thích giới tính.
4, Chống chỉ định của thuốc
- Những bệnh nhân quá mẫn với thành phần thuốc.
- Do Viagra có sự tương tác với các thuốc nitrat hữu cơ theo cơ chế làm tăng thêm tác dụng hạ huyết áp của các loại thuốc này. Vậy nên nếu bạn đang dùng các nitrat hữu cơ bất cứ dạng nào cũng không được sử dụng Viagra.
- Những bệnh nhân bị bệnh hạ huyết áp, suy gan, suy thận nặng, gần đây có xuất hiện đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim, trường hợp võng mạc thoái hóa di truyền đã biết như viêm võng mạc thoái hóa sắc tố thì cũng không được sử dụng Viagra 100mg.
- Thuốc chống chỉ định cho phụ nữ, thai phụ và trẻ em dưới 18 tuổi.
5, Cách sử dụng Viagra 100mg sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Cách dùng: Thuốc dùng đường uống, bạn sử dụng uống thuốc với nước lọc. Ðể thuốc có hiệu quả, cần phải có sự kích thích về giới tính.
Liều dùng:
Người lớn trên 18 tuổi: Liều là 50mg vào thời gian 1 giờ trước hoạt động tình dục. Bạn hãy theo dõi công hiệu và sự dung nạp sau đó tăng dần liều lên và liều tối đa có thể tăng lên là 100mg, hoặc nếu công dụng quá mạnh thì bạn nên giảm liều xuống còn 25mg. Mỗi ngày dùng thuốc một lần.
Đối với bệnh nhân tuổi trung niên: Liều dùng lần đầu tiên là 25mg. Dựa theo hiệu quả và sự dung nạp của mỗi người mà có thể tăng lên tới 50mg hoặc 100mg.
Với bệnh nhân bị suy thận:
- Người bệnh nhân suy thận nhẹ, đến vừa (xét nghiệm được độ thanh thải creatinin là 30-80ml/phút), sử dụng liều thuốc như người lớn bình thường.
- Ðối với người bệnh suy thận nặng: dùng 25mg với liều đầu tiên. Sau đó, tùy theo hiệu quả và sự dung nạp của thuốc, liều dùng có thể tăng dần đến 50mg hoặc 100mg.
Bệnh nhân bị suy gan:
Vì mức độ chuyển hóa Sildenafil của bệnh nhân suy gan bị suy giảm (ví dụ: bệnh nhân mắc chứng xơ gan), liều ban đầu bạn nên sử dụng là 25mg. Tiếp theo đó, dựa trên hiệu quả và sự dung nạp của mỗi cá thể, bạn có thể tăng liều thuốc của mình lên đến 50mg hoặc 100mg.
6, Những lưu ý khi sử dụng Viagra 100mg
- Cần tiến hành khám và hỏi kỹ tiền sử bệnh để chẩn đoán nguyên do gây nên tình trạng rối loạn cương dương ở bệnh nhân.
- Theo khoa học chứng minh là có sự liên quan nhất định giữa hoạt động tình dục và các nguy cơ về tim mạch, bởi vậy bác sĩ và dược sĩ nên tìm hiểu tình hình sức khỏe tim mạch của bệnh nhân trước khi sử dụng các liệu pháp điều trị rối loạn cương dương cho những bệnh nhân này.
- Thận trọng khi chỉ định các thuốc điều trị rối loạn cương dương cho người bệnh có bất thường dương vật về mặt giải phẫu như: xơ hóa hang, dương vật gấp góc, bệnh Peyronie, hoặc có các bệnh dễ dẫn đến chứng cương đau kéo dài (như bệnh thiếu máu, hồng cầu hình liềm, bệnh bạch cầu).
- Ở những người không thích hợp với hoạt động tình dục thì không nên sử dụng thuốc điều trị rối loạn cương dương.
- Hiện nay chưa có nghiên cứu nào chứng minh tính an toàn và hiệu quả khi dùng Viagra 100mg với các thuốc khác trong khi điều trị rối loạn cương dương. Bởi vậy, các nhà khoa học khuyến cáo không nên điều trị kết hợp các loại thuốc điều trị cương dương với Viagra.
- Viagra không làm thay đổi thời gian chảy máu khi dùng riêng hoặc dùng đồng thời với aspirin. Những thử nghiệm trên tiểu cầu ở người cho thấy Sildenafil làm tăng tác dụng chống ngưng kết tiểu cầu của natri nitroprusside (là chất sản sinh ra Nitrogen II oxid). Hiện này chưa có dữ liệu về sự an toàn cho việc sử dụng Viagra 100mg ở những bệnh nhân mắc chứng rối loạn đông máu hoặc loét dạ dày – tá tràng. Bởi vậy, những đối tượng này cần thận trọng khi sử dụng Viagra.
- Hiện nay chưa có thông tin về sự an toàn của Viagra khi chỉ định cho những người viêm võng mạc sắc tố do rỗi loạn di truyền phosphodiesterase ở võng mạc. Vậy nên cần thận trọng khi chỉ định Viagra để điều trị cho những bệnh nhân này.
- Viagra không có tác dụng phụ trên khả năng lái xe và vận hành máy móc..
- Không sử dụng Viagra cho phụ nữ, sản phụ và trẻ em.
- Chưa khẳng định được tác dụng gây quái dị hay ảnh hưởng đến sự di chuyển của tình trùng của Viagra trên những người tình nguyện khỏe mạnh khi sử dụng thuốc.
7, Thuốc Viagra 100mg giá bao nhiêu có thể mua ở đâu?
Hiện nay thuốc Viagra 100mg điều trị rối loạn cương dương đang được bán với giá thành là 1.200.000 vnđ một hộp chứa 1 vỉ thuốc có 4 viên.
Viagra 100mg là thuốc chữa rối loạn cương dương hiệu quả cao, được rất nhiều người tiêu dùng tin tưởng vì vậy nó được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Hiện tại thuốc đã có mặt trên khắp các tỉnh thành, bạn hãy đến những hiệu thuốc uy tín nơi bạn ở, bên trên mỗi hộp thuốc còn có mã vạch để các bạn kiểm tra hàng giả hàng thật. Nếu bạn không có thời gian đến các hiệu thuốc thì có thể đặt mua thuốc qua các trang mạng điện tử nhưng cần tìm hiểu kỹ thông tin về địa chỉ cũng như thuốc để tránh mua phải hàng kém chất lượng.
8, Tác dụng phụ của Viagra 100mg
Sản phẩm đã được dùng cho hơn 3500 bệnh nhân (độ tuổi từ 18-87) trong các nghiên cứu thực hành lâm sàng trên toàn thế giới. Trong số đó thì có hơn 550 bệnh nhân đã được điều trị kéo dài với khoảng thời gian hơn một năm.
Thuốc Viagra 100mg có khả năng dung nạp khá tốt. Trong các nghiên cứu lâm sàng có can thiệp, tỷ lệ dừng sử dụng thuốc do tác dụng không mong muốn thấp và tương tự với nhóm bệnh nhân sử dụng placebo. Các tác dụng không mong muốn nói chung chỉ xảy ra thoáng qua và mức độ từ nhẹ đến trung bình.
Qua các nghiên cứu với mọi hình thức khác nhau, số liệu được thống kê cho thấy rằng các tác dụng không mong muốn ở người bệnh dùng Viagra là tương tự như nhau.
Trong các nghiên cứu liều sử dụng cố định, tỷ lệ các tác dụng không mong muốn sẽ gia tăng nếu bệnh nhân tăng liều.
Sau đây là những tác dụng phụ có thể liên quan hay không liên quan tới sản phẩm được báo cáo nhiều nhất khi Viagra được cho dùng lúc cần trong các nghiên cứu lâm sàng liều thay đổi :
- Trên hệ tim mạch: xuất hiện tình trạng chóng mặt, nhức đầu, bừng mặt.
- Trên hệ tiêu hóa : rối loạn tiêu hóa, táo lỏng bất thường.
- Trên hô hấp : nghẹt mũi, chảy nước mũi.
- Cảm giác đặc biệt khác như: thị giác bị ảnh hưởng (với mức độ nhẹ và thoáng qua, chủ yếu là rối loạn nhìn màu, nhưng cũng gặp tăng nhạy cảm với ánh sáng hoặc bệnh nhân có thể nhìn mờ).
- Không có báo cáo về trường hợp nào bị cương đau kéo dài.
9, Dược lực của thuốc
Viagra 100mg là một sản phẩm dùng đường uống để điều trị chứng rối loạn cương dương, làm phục hồi chức năng cương dương suy yếu, tạo ra những đáp ứng tự nhiên khi có kích thích tình dục.
Cơ chế sinh lý học của sự cương dương vật là nhờ sự giải phóng nitrogen II oxyd (NO) khi có kích thích tình dục ở thể hang. Tiếp theo, Nitrogen II oxit hoạt hóa enzyme guanylate cyclase, khi nồng độ enzyme này tăng cao sẽ làm tăng guanosin monophosphate vòng (cGMP), gây tăng lưu lượng dòng máu đi vào thể hang do giãn cơ trơn các mạch máu ở đây.
Viagra 100mg là thuốc ức chế mạnh và chọn lọc đối với enzyme phosphodiesterase týp 5 đặc hiệu trên cGMP (PDE5), enzyme này có tác dụng làm giáng hóa cGMP trong thể hang, gây giảm hoạt động và số lượng GMPc. Theo cơ chế đó, thành phần Sildenafil có tác dụng một cách gián tiếp đến sự cương cứng của dương vật.
Sildenafil không tác động trực tiếp tới việc giãn thể hang trên người được phân lập, nhưng thành phần này thúc đẩy mạnh tác dụng gây giãn thể hang của NO trên loại mô này. GMPc sẽ tăng lên khi được hoạt hóa do yếu tố kích thích tình dục, sự ức chế enzyme PDE5 bởi Viagra làm tăng nồng độ GMPc vòng và tăng thời gian tồn tại trong thể hang. Vì vậy, yếu tố quan trọng tác động tới công hiệu của thuốc đó chính là kích thích tình dục.
Sử dụng liều uống duy nhất Viagra 100mg trên những người tình nguyện khỏe mạnh không gây ra những ảnh hưởng về tim mạch, điện tâm đồ của họ được chứng minh là hoàn toàn như người bình thường. Trung bình ở những người này có sự giảm tối đa huyết áp tâm thu ở tư thế nằm sau khi uống liều 100mg Viagra là 8,4 mmHg. Bên cạnh đó, giá trị huyết áp tâm trương ở tư thế nằm có sự thay đổi là 5,5 mmHg. Sự giảm huyết áp này được giải thích dựa trên tác dụng giãn mạch của Viagra.
Viagra không gây ảnh hưởng đến độ nhạy và khả năng nhận biết sự tương phản màu của thị giác:
- Khả năng phân biệt màu (xanh lá cây hoặc xanh dương) có sự thay đổi nhẹ và trong thời gian ngắn. Tình trạng này được phát hiện thấy ở một số người sử dụng phương pháp test màu sắc Farnsworth-Munsell 100, 1 giờ sau khi uống Viagra 100 mg, không có bằng chứng nào về sự ảnh hưởng của thuốc sau 2 giờ.
- Cơ chế của sự thay đổi phân biệt màu này liên quan tới sự ức chế của Viagra tới enzyme PDE6, đây là một isoenzym có liên quan tới chuỗi phản ứng với ánh sáng của mắt. Các nghiên cứu trong thí nghiệm in vitro cho thấy Viagra có tác động trên enzyme PDE5 mạnh gấp 10 lần trên enzyme PDE6.
Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã cho thấy tính chọn lọc của Viagra trên enzyme PDE5 mạnh hơn gấp 10-10000 lần so với các dạng enzyme PDE khác như PDE1, 2, 3, 4 và 6. Con số cụ thể hơn là: tác dụng chọn lọc của Viagra trên enzyme PDE5 mạnh hơn gấp 4000 lần so với tác dụng trên enzyme PDE3.
11, Đặc điểm dược động học của Viagra 100mg
Hấp thu:
Viagra 100mg được hấp thu nhanh ngay sau khi sử dụng. Thuốc đạt nồng độ đỉnh trong máu trong vòng 40-120 phút (thời gian trung bình là 60 phút) sau khi uống thuốc lúc đói. Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống đạt được ở mức trung bình là 41% (dao động ở khoảng 25-63%). Hiệu quả điều trị của Viagra tỉ lệ thuận với liều khuyến cáo (25-100 mg), tức khi là khi bạn tăng liều dùng từ 25mg đến 100mg thì hiệu quả đạt được sẽ tăng lên.
Khi uống Viagra 100mg và khẩu phần ăn chứa nhiều mỡ, tỷ lệ thuốc được hấp thu bị giảm đi, Thời gian đạt nồng độ đỉnh sẽ tăng lên đạt khoảng 60 phút, nồng độ đỉnh (Cmax) bị giảm trung bình là 29%.
Sự phân bố của thuốc trong cơ thể:
Trong cơ thể Sildenafil có thể tích phân phối trung bình là 105 lít, với thể tích phân bố khá lớn thì có thể chứng tỏ rằng thuốc phân phối chủ yếu ở các mô. Chất chuyển hóa của Sildenafil và ngay cả Sildenafil đều là những dẫn chất có ái lực mạnh với protein huyết tương ( khoảng 95%)
Chuyển hóa:
Viagra được chuyển hóa chủ yếu bởi các enzym gan như CYP3A4 (chủ yếu) và CYP2C9 (phần phụ) ở microsom gan. Chất chuyển hóa chính lưu hành trong máu được hình thành từ phản ứng oxi hóa và kết quả ở vị trí Nitơ của Sildenafil mất đi methyl. Tác dụng chọn lọc của chất chuyển hóa này trên enzyme PDE tương tự như Sildenafil, còn khi thực hành trong in vitro, thì tác dụng ức chế enzyme PDE của chất chuyển hóa bằng khoảng 50% khả năng của Sildenafil. Trong máu, lượng chất chuyển hóa này bằng khoảng 40% lượng Sildenafil ban đầu và thời gian bán thải của nó khỏi cơ thể là khoảng 4 giờ.
Thải trừ của thuốc :
Theo nghiên cứu và tính toán Viagra có độ thanh thải tổng cộng là 41 l/h với thời gian bán thải cuối cùng là 3-5 giờ (trung bình là 4h). Bất kể là sử dụng đường uống hay tiêm tĩnh mạch thì Viagra đều được bài tiết ra khỏi cơ thể dưới dạng hợp chất chuyển hóa. Đường thải trừ của thuốc chủ yếu qua phân (khoảng 80% liều bạn sử dụng ban đầu),và phần còn lại được thải trừ qua nước tiểu (chiếm khoảng 13% liều uống ban đầu).
Dược động học trong những trường hợp đặc biệt:
Người cao tuổi :
- Ở người tình nguyện cao tuổi khỏe mạnh (từ 65 tuổi trở lên) có độ thanh thải Sildenafil giảm so với người trẻ tuổi hơn. Do độ thanh thải thuốc giảm nên nồng độ thuốc ở dạng tự do trong máu sẽ cao hơn nồng độ thuốc trong máu ở những người khỏe mạnh trẻ khỏe (18 đến 65 tuổi) là 40%.
- Tuy nhiên, theo những phân tích về mặt số liệu thì đã chứng minh được rằng tuổi tác không ảnh hưởng tới mức độ của tác dụng không mong muốn của thuốc.
Đối với những bệnh nhân suy thận:
- Ở các bệnh nhân có suy giảm chức năng thận ở độ nhẹ (độ thanh thải creatinin từ 50-80ml/phút) và vừa (độ thanh thải creatinin là 30-49ml/phút), không thấy có thay đổi về đặc tính dược động học khi bệnh nhân sử dụng một liều Viagra duy nhất (50 mg).
- Ở bệnh nhân bị suy thận nặng (độ thanh thải ≤ 30ml/phút), thì độ tích lũy của Sildenafil có xu hướng tăng lên, dẫn đến lượng thuốc trong cơ thể (AUC) đạt 100% và nồng độ đỉnh (Cmax) đạt được là 88% so với ở những người cùng tuổi nhưng thận khỏe mạnh.
Bệnh nhân suy gan:
Ở người bị xơ gan (Child-Pugh A và B), độ thanh thải Sildenafil giảm đi, do đó tăng lượng thuốc trong cơ thể (AUC) đạt ngưỡng 84% và nồng độ đỉnh của thuốc trong máu (Cmax) đạt được là 47% so với ở những người cùng tuổi nhưng gan khỏe mạnh.
Số liệu về an toàn thuốc tiền lâm sàng :
Trong nhiều nghiên cứu khoa học thì Viagra 100mg đã được chứng minh là không gây đột biến hay sinh ung thư ở người sử dụng.
12, Các thông tin khác về nghiên cứu lâm sàng
Sự an toàn và hiệu quả của Viagra 100mg đã được đánh giá trong 21 nghiên cứu lâm sàng, sử dụng phương pháp chọn các cả thể ngẫu nhiên vào nhóm chứng và nhóm nghiên cứu, vậy nên có tính đại diện cao trong quần thể rộng lớn. Các nhà thiết kế có dùng phương pháp mù đôi để loại bỏ những yếu tố nhiễu làm ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu, nhân viên có kiểm soát với placebo trong thời gian dài đến 6 tháng.
Sản phẩm Viagra 100mg được dùng ở hơn 3000 bệnh nhân tuổi từ 19-87, mắc chứng rối loạn cương dương do nhiều nguyên do khác nhau như tâm lý, thực thể, phối hợp nhiều yếu tố. Khi các bệnh nhân được quan sát một thời gian sẽ được đánh giá hiệu quả bằng bảng câu hỏi lượng giá tổng quát, chỉ số chức năng quốc tế (the International Index of Erectile Function -IIEF), nhật ký cương dương, là một bộ câu hỏi về chức năng tình dục đã được định giá và bản câu hỏi cho các bệnh nhân đăng ký thử nghiệm lâm sàng.
Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá hiệu quả của thuốc là khả năng duy trì và đạt được sự cương cứng đủ để quan hệ tình dục. Hiệu quả của Viagra được chứng minh và đo lường thông qua 21 thử nghiệm lâm sàng và thời gian thực nghiệm là một năm.
Thực hiện nghiên cứu trên nhóm chủ cứu và nhóm đối chứng sử dụng placebo ở liều dùng cố định thì tỷ lệ bệnh nhân cải thiện được chức năng cương dương ở liều 25mg là 62%, ở liều 50mg cải thiện được 74% bệnh nhân và liều dùng 100mg thì cải thiện được 82% bệnh nhân so với nhóm bệnh nhân sử dụng placebo là 25% bệnh nhân được cải thiện.
Các nhà nghiên cứu cũng thử nghiệm tác dụng của Viagra trên những người có bệnh nền như tiểu đường, chấn thương cột sống…
13, Tương tác của thuốc Viagra 100mg với các thuốc khác
Theo các nghiên cứu in vitro:
Sự chuyển hóa Sildenafil được quyết định chủ yếu bởi cytochrome P450 (CYP) loại isoenzyme 3A4 (con đường chủ yếu) và isoenzyme 2C9 (con đường phụ). Vì vậy, các thuốc có khả năng ức chế những isoenzym này có thể làm giảm chuyển hóa của Viagra trong cơ thể, gây ra tình trạng thuốc tích lũy lâu trong cơ thể.
Trong các nghiên cứu in vivo:
Cimetidine (liều dùng là 800mg) là thuốc trong điều trị bệnh đau dạ dày sẽ có khả năng ức chế không đặc hiệu enzym gan CYP3A4 và làm tăng 56% nồng độ Sildenafil trong máu khi sử dụng đồng thời với Viagra (liều dùng là 50 mg) ở những người khỏe mạnh.
Sự ức chế enzym gan CYP3A4 cũng có thể xảy ra khi người bệnh sử dụng các loại thuốc chống nấm như ketoconazole, thuốc kháng sinh như erythromycin….Vậy nên khi bạn sử dụng những loại thuốc này với Viagra thì nồng độ Sildenafil trong máu cũng tăng lên khá cao so với bình thường. Mặc dù sự tích lũy của Sildenafil trong cơ thể có tăng lên nhưng lại không có sự gia tăng tỷ lệ các tác dụng không mong muốn ở những người bệnh này.
Các antacid kháng acid (như các hydroxyd magnesi và hydroxyd nhôm) không ảnh hưởng đến đặc điểm dược động học của Viagra.
Theo nhiều số liệu thống kê thì những thuốc dùng cùng có khả năng ức chế enzym CYP2C9 (như thuốc chống đông warfarin và tolbutamide) không có ảnh hưởng tới các thông số dược động học của Viagra.Tương tự như vậy là các thuốc thuốc ức chế enzym CYP2D6 (như các loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng, thuốc chống thu hồi chọn lọc serotonin), các thuốc lợi tiểu thiazid, lợi tiểu giữ kali huyết, nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp như thuốc chẹn kênh calci cũng không làm thay đổi đặc tính dược động học của Viagra khi dùng cùng nhau.
14, Cialis với Viagra – thuốc nào sử dụng tốt hơn?
Cialis và Viagra là hai loại thuốc được dùng để đều điều trị rối loạn cương dương hiệu quả nhưng có một số khác biệt quan trọng giữa hai loại thuốc mà bạn cần phân biệt được:
- Cialis tồn tại trong cơ thể lâu hơn (36h) so với Viagra (8h) nên có thời gian tác dụng lâu hơn, kéo dài thời gian cương dương.
- Viagra tác động nhanh hơn và có thể đạt hiệu quả cao nhất trong vòng 30 phút sau khi sử dụng thuốc, trong khi đó sản phẩm Cialis có thể mất tới 2 giờ mới có thể cho hiệu quả trông thấy.
Cialis đã được FDA của Mỹ chấp thuận vào ngày 21/11/2003 như là một loại thuốc theo đơn để điều trị rối loạn cương dương ở nam giới. Cialis có thành phần chính là Tadalafil. Tadalafil có khả năng làm thư giãn các cơ của dương vật và tăng lưu lượng máu vào dương vật để tạo điều kiện cho sự cương cứng. Cialis được nghiên cứu và sản xuất bởi một công ty công nghệ sinh học ở Mỹ – ICOS. Cialis có dạng bào chế khá giống với Viagra nhưng là viên thuốc có màu cam, có nhiều liều sẵn ở dạng viên 5mg, 10mg và 20mg để uống khá tiện lợi.
Trên đây là một số thông tin về thuốc Viagra điều trị rối loạn cương dương, chứng liệt dương ở nam giới. Để thuốc phát huy hiệu quá tốt nhất cũng như hạn chế được tác dụng không mong muốn, người dùng nên tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ, người có chuyên môn trước khi sử dụng.
Reviews
There are no reviews yet.